Duy tuệ thị nghiệp

 

Thích Như Tấn

 

Đạo Phật dùng Trí-tuệ để làm  một trong vô lượng phương tiện độ sanh, một phương tiện có thể nói là thù thắng để tự độ và độ tha, nên hàng xuất gia phải lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Đạo Phật không chủ trương dùng thần thông để hóa độ, v́ ngoại đạo cũng xử dụng thần thông được. Đức Phật muốn chúng sanh, tự ḿnh giải thoát lấy ḿnh, nên cổ đức mới nói : “Phật v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện nơi đời. Đó là : “Khai thị chúng sanh, ngộ, nhập, Phật tri kiến”, hơn nữa thần thông chỉ là kết quả của thiền định, nói thiền định sanh trí tuệ, nhưng kẻ không có trí tuệ th́ không thể tu tập thiền định được, nên Đức Thế Tôn dạy hàng đệ tử lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Trong Kinh Di  Giáo Đức Phật dạy : “Ta như vị lương y biết bịnh mà nói thuốc, c̣n uống hay không, không phải lỗi của lương y. Lại như người chỉ dẫn đường tốt cho người, nhưng nghe rồi mà không đi, th́ không phải lỗi của người dẫn đường”

 

Nhưng như thế nào gọi là có trí tuệ, trong Kinh Pháp Cú có nói : “Người có trí tuệ không phải là người học nhiều, thông hiểu nhiều. Người có trí tuệ là người nói ra đúng thời, đúng lúc, có lợi cho ḿnh và cho người khác”. Một câu nói thật đơn giản, nhưng để được thông suốt, thấu triệt, thể hiện được như câu nói trên, kẻ hành giả thực hành công hạnh đó, tự ḿnh đă phải trang bị một kiến thức bao gồm thiên kinh vạn điển. Nhưng yếu tố thiên kinh vạn điển cũng chưa đủ, v́ về phương diện khế lư, khế cơ để áp dụng trong công cuộc hoằng hóa độ sanh, th́ kiến thức và sự hiểu biết qua học hỏi không thể biết và biện biệt được như thế nào là khế lư, khế cơ. Bởi v́, nó thuộc về lănh vực thực chứng, thực nghiệm.

 

Để nói về khế lư, khế cơ, chúng ta tạm định nghĩa về hai từ này xem sao : Khế là khế hợp, vừa vặn khít khao ; lư là bên trong, là lư lẽ, lư luận, chân lư…, Cơ là căn cơ (tŕnh độ nhận biết), thời cơ…để rỏ thêm về vấn đề này, tôi xin nêu lên đoạn kinh Duy-Ma-Cật và ngài Phú-Lâu-Na, trong kinh “Duy-Ma-Cật sở thuyết” như sau :

 

« …Phật bảo Phú-Lâu-Na Di-Đa-La-Ni-Tử

-Ông đi đến thăm bịnh ông Duy-Ma-Cật

Phú-Lâu-Na bạch Phật :

-Bạch Thế-Tôn ! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao ?- Nhớ lại trước kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây nói pháp cho các Tỳ-kheo mới học, lúc đó ông Duy-Ma-Cật đến bảo con : « Thưa Phú-Lâu-Na ! Ngài nên nhập định trước để quán sát tâm-địa của những người này, rồi sau mới nên nói pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rơ tâm-niệm của các vị Tỳ-kheo này, chớ cho ngọc lưu-ly đồng với thủy-tinh. Ngài không biết được căn-nguyên của chúng sanh, chớ nên dùng pháp tiểu-thừa mà phát-khởi cho họ, những người kia tự không có t́ vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chân trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm. Ngài Phú-Lâu-Na ! Những vị Tỳ-kheo này đă phát tâm Đại-thừa từ lâu, giữa chừng quên lăng, nay tại sao lại lấy pháp tiểu-thừa dẫn dạy họ ? Tôi xem hàng tiểu-thừa trí-huệ cạn cợt cũng như người mù, không phân-biệt được căn-tánh lợi, độn của chúng-sanh.

 

Lúc bấy giờ ông Duy-Ma-Cật liền nhập tam-muội (chánh-đinh) làm cho những vị Tỳ-kheo đó biết được kiếp trước của ḿnh đă từng ở nơi 500 đức Phật vun trồng các cội đức, hồi-hướng về đạo vô-thượng chánh-đẳng chánh-giác, liền đó rỗng suốt trở lại đặng bổn-tâm (Đại-thừa). Khi ấy các vị Tỳ-kheo cúi đầu đảnh lễ nơi chân ông Duy-Ma-Cật, ông liền nhân đó nói pháp làm cho tất cả không c̣n thối lui nơi đạo vô-thượng Bồ-đề.

 

Con nghĩ hàng Thanh-văn như con không quán được căn cơ của người, không nên nói pháp. V́ thế con không kham lănh đến thăm bịnh ông… »

 

Đoạn kinh trên cho thấy muốn thuyết pháp độ sanh trước phải biết căn cơ của những người ḿnh muốn hóa độ thuộc loại căn cơ nào, mà muốn biết căn cơ của những người ḿnh muốn hóa độ, th́ người nói pháp phải biết Túc mạng của người đó. Muốn được điều này, người thuyết pháp phải chứng Túc-mạng thông. Đă chứng được Túc-mạng thông như trường hợp Ngài Phú-Lâu-Na, mà nếu không nhập định để quán sát th́ cũng không biết được, huống chi là chưa chứng Túc-mạng thông, dùng Túc mạng thông biết được đời trước kẻ đó đă làm thân ǵ, Trời, Người, Súc sanh, A tu la…nên phải tu chứng được Tha tâm thông để biết chúng sanh đó ước muốn, suy nghĩ ǵ. Từ đó Bồ tát mới biết nên dùng phương tiện ǵ mới có thể độ. Nhưng để dạy bảo cho chúng sanh đó hiểu biết mà làm theo, người nói pháp c̣n phải thông đạt ngôn ngữ của chúng sanh đó, nên tiếp theo phải chứng được Ngữ ngôn tam muội. Đời nay, có những người tự xưng là Tăng là trưởng tử Như Lai, miệng luôn nói « Hoằng Pháp thị gia vụ » nhưng lại nghe theo tà thuyết Cọng Sản, chỉ chạy theo danh theo lợi, chưa chứng nói chứng, chưa thông nói thông, lừa đảo lường gạt dụ dỗ người làm cho sa vào hố tà kiến, muôn kiếp không thoát khỏi. Những hạng người này cho rằng dịch kinh, in sách cho nhiều là hoằng pháp, nếu Phật pháp mà do dịch kinh in sách cho nhiều là thành Phật, th́ Phật đâu có cần ǵ đến 49 năm tuyên nói từ quyền, thật đến đốn, tiệm…đâu phải răn đe nhắc nhở khuyên bảo tu Tam tụ tinh giới(1)…cho đến thành tựu thập lực(2), tứ vô sở úy(3), mười tám pháp bất cộng(4). Nói vậy để thấy rằng, thần thông cùng trí huệ của hàng Thanh-văn so với Bồ-tát và Phật hạn hẹp và thua kém đến mức nào !

 

Đức Thế Tôn đă huyền kư, thời điểm này là thời điểm của mạt Pháp. Nói mạt pháp không phải là Pháp mạt mà con người trong thời nay mạt, nghĩa là Pháp vẫn c̣n đầy đủ, nhưng những người tự xưng là đệ tử Phật th́ chẳng ai chịu hành tŕ tu tập (không thể căn cứ h́nh tướng mà xác định được tu hay không tu), chỉ lo chạy theo h́nh thức huyễn hóa bên ngoài, gọi là bội giác hợp trần, hàng ngày làm bạn  cùng ma, dùng lời Phật để dụ dỗ những hạng sơ cơ khiến cho sa vào ma sự, rồi rêu rao cho đó là tu tập, ở trong đạo Phật mà tự ḿnh chẳng biết thế nào là đạo Phật, ví như cái muỗng nằm trong tô canh, mà chẳng biết mùi vị của canh là như thế nào, thật đáng thương xót !

 

Những điều mà các người học Phật ngày nay hướng theo là : học nhớ nhiều ngôn ngữ, đọc và biết nhiều kinh điển, được lợi khẩu nói ra thao thao bất tuyệt, được nhiều người ca ngợi, th́ cho đó là người có trí tuệ. C̣n sự thấu hiểu, thi thiết ra để mọi người có được lợi ích th́ chẳng quan tâm, mà có muốn quan tâm cũng chẳng quan tâm được, v́ chẳng có thực tu thực chứng đối với tất cả pháp môn mà Phật đă chĩ dạy. Như thế, th́ làm sao nói là Chánh pháp xương minh, trường tồn măi măi được !

 

 

Nói trí tuệ là nói : một là trí tuệ thế gian, hai là trí tuệ xuất thế gian. Đại Trí Độ chép : « …Như Bồ-tát Thích Ca Văn làm thái tử một ông quốc vương. Phụ vương có ông Phạm Chí làm quốc sư, dối không ăn ngũ cốc, được mọi người kính tin cho là kỳ dị. Thái tử suy nghĩ : Người ta sống được phải nhờ ngũ cốc, mà người này không ăn, tất là lừa dối nhân tâm không phải pháp chân thật. Cha mẹ bảo con : Người này tinh tiến không ăn, là hiếm có trong đời, ngươi sao quá ngu mà không kính tin ?

 

Thái tử đáp : Xin lưu ư người này một chút, không lâu sẽ có sự chứng nghiệm. Thái tử liền t́m đến chỗ ở của ông ta ở trong rừng hỏi người chăn ḅ rằng : Người này hàng ngày ăn ǵ ? Kẻ chăn ḅ đáp : Người này cứ nửa đêm uống sữa ít nhiều để toàn mạng sống.

 

Thái tử biết rồi liền về cung, liền lấy cỏ thuốc có tính cách tẩy ruột (thuốc xổ) ướp vào hoa sen xanh. Sáng hôm sau, Phạm chí vào cung, ngồi bên vua. Thái tử mang hoa lại cúng dường, bái rồi trao cho. Phạm chí hoan hỷ tự  nghĩ : Vua, hoàng hậu, trong ngoài lớn nhỏ đều phục thờ ta, duy có thái tử không thấy tin kính, ngày nay đem hoa tốt cúng dường. Lành thay ! Lành thay ! Được hoa tốt rồi, đưa lên mũi ngửi, hơi thuốc trong hoa xông vào trong bụng, chỉ chốc lát, thuốc làm cho muốn bài tiết.

 

Thái tử nói : Phạm chí không ăn v́ duyên ǵ phải t́m nhà vệ sinh cấp tốc như vậy ? Một lát thổ ra ở bên vua, thổ ra thuần sửa. Chứng nghiệm rơ ràng rồi, vua và hoàng hậu mới biết là dối.

 

Thái tử nói : Người này thực là giặc vậy ! Cầu danh nên lừa dối cả nước.

 

Đó là Bát nhă của thế tục, chỉ cầu thỏa măn trí hiểu biết. Hoặc Bồ tát làm xuất thế gian Bát nhă, tŕ giới, bố thí tâm không nhiễm trước. V́ sao ? Tài vật bố thí, tội, không tội, giận, không giận, chăm, lười, nhiếp tâm, tán tâm, không thể được. »

 

Như đoạn kinh văn nêu trên, Ngài Phú Lâu Na đâu phải là không thông hiểu Phật pháp, mà Ngài c̣n được mệnh danh là bậc thuyết pháp đệ nhất của Đức Thích Ca Mâu Ni, vậy mà khi Ngài Duy Ma vấn nạn lại không thể trả lời được, Ngài cũng là bậc A La Hán đă hết mọi kết sử phiền năo, cũng là bậc đầy đủ Lục thông, Tam minh. Xét về khía cạnh này chúng ta mới thấy sự nhỏ lớn, thấp cao, rộng hẹp của hàng Thanh văn đối với Bồ tát và Phật.

 

Nói nhỏ, v́ hàng Thanh văn thấy sanh tử, phiền năo là khổ là nhàm chán, nên chí cầu xuất ly chứng đắc Niết bàn, thấy chúng sanh cang cường khó độ nên không muốn độ, chỉ muốn thủ chứng Niết bàn an lạc mà thôi, nên thấy chúng sanh khổ cũng không dám xông vào để độ. (trong hạnh Bồ tát, nếu Bồ tát khởi lên tư tưởng này, gọi là bị ma phá nhiễu)

 

Nói thấp, v́ quả vị của hàng Thanh văn tuy là được thoát ly sanh tử, không c̣n phiền năo, nhưng vẫn c̣n chấp pháp, nghĩa là chấp sơn hà, đại địa, nhơn vật trong Đại thiên là thật có, cũng là quả vị chứng đắc thấp đối với hàng Duyên giác, Bồ tát và Phật, chỉ thấy nhân không, chưa thấy pháp không.

 

Nói rộng, v́ trí tuệ, thần thông lực dụng của hàng Thanh văn so với Bồ tát và Phật như đom đóm so với ánh sáng mặt trời, như nước lỗ chân trâu so với bốn biển. Đại Trí Độ có nói : « …Lại nữa Xá Lợi Phất không phải bậc Nhất thiết trí, với trí tuệ của Phật như trẻ nít. Như trong kinh A Bà Đàn Na nói : Phật ở trong rừng Kỳ Hoàn, buổi quá trưa đi kinh hành, ngài Xá Lợi Phất theo Phật đi kinh hành. Lúc đó, có con chim ưng đuổi bắt chim cáp (c̣n gọi là chim ngói), cáp bay lại bên Phật đứng, Phật vừa đi tới, bóng Phật che trên chim, chim được an ổn, khỏi sợ hăi, không c̣n tiếng kêu. Khi Phật đi qua, bóng ngài Xá Lợi Phất tới, chim lại kêu la, run rẫy sợ hăi như trước. Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật rằng :

-Bạch đức Thế Tôn, Phật và con đều không c̣n ba độc, v́ nhân duyên ǵ bóng Phật che chim th́ chim hết sợ mà bóng con che th́ chim lại kêu và sợ hăi như trước ?

-Tập khí ba độc của ông chưa hết nên bóng của ông che nó, khiến nó sợ hăi. Ông xem chim này nhân duyên đời trước của nó đă bao nhiêu đời làm thân chim cáp ?

Ngài Xá Lợi Phất tức thời nhập Túc mạng trí tam muội, xem thấy con chim cáp này, từ giống cáp mà lại. Như thế một hai, ba đời cho đến tám muôn đại kiếp thường làm chim cáp. Quá đó trở đi th́ không thể thấy được. Ngài Xá Lợi Phất từ tam muội dậy, bạch Phật rằng : Bạch đức Thế Tôn con cáp này trong tám vạn đại kiếp thường làm thân cáp. Quá trở về trước th́ con không thể biết.

Phật nói : Nếu ông chẳng thể biết hết đời quá khứ, thử xem ở đời vị lại, con cáp này đến thời nào được thoát thân cáp ?

 

Ngài Xá Lợi Phất liền nhập Nguyện trí tam muội xem thấy con cáp này một, hai, ba đời cho đến tám vạn đại kiếp chưa thoát thân cáp. Quá đó trở đi cũng không biết thêm nữa. Từ tam muội trở dậy, bạch Phật rằng :

 

-Lạy đức Thế Tôn, con thấy con cáp này từ một đời, hai đời, cho đến tám vạn đại kiếp chưa thoát khỏi thân cáp, quá đó trở đi th́ con không biết nữa ! Con không biết giới hạn vi tế của quá khứ, vị lại, không rơ con cáp này thời nào được thoát ?

 

Phật bảo ngài Xá Lợi Phất : Con cáp này từ trong hằng hà sa đại kiếp thường làm cáp, hết tội được ra, luân chuyển trong năm đạo, sau được làm người, trăi trong năm trăm đời mới được lợi căn, lúc đó có Phật độ vô lượng a tăng kỳ chúng sanh, sau nhập Vô dư Niết bàn, người ấy làm nam cư sĩ thọ Ngũ giới, theo Tỷ kheo nghe khen công đức làm Phật ; lúc đó mới phát tâm nguyện muốn làm Phật. Sau đó ở trong ba a tăng kỳ kiếp hành sáu Ba la mật, đầy đủ Thập địa mà được làm Phật, độ vô lượng chúng sanh rồi nhập Niết Bàn.

 

Bấy giờ ngài Xá Lợi Phất hướng Phật sám hối, bạch Phật rằng : Lạy đức Thế Tôn, với một con cáp, con c̣n chẳng hay biết được gốc ngọn huống chi các pháp ? Nếu con biết trí tuệ Phật như thế, v́ cầu trí tuệ của Phật thà vào địa ngục a tăng kỳ vô lượng kiếp khổ, không lấy làm khó… »

 

Nên người học Phật, muốn giải thoát ḿnh và độ người th́ phải cầu trí tuệ Bát nhă, mà là Bát nhă xuất thế gian không phải là trí tuệ thế gian. (Ở đây xin mở ngoặc để nêu lên vài sự việc đă xảy ra trên DĐ, những người đă ly khai Giáo Hội tiếp tay cùng ác đảng muốn tiêu diệt Giáo hội truyền thống là GHPGVNTN, họ muốn ly gián, triệt hạ những thành viên trong HĐLV, họ tự cho ḿnh là có học vi tiến sĩ ǵ đó nên ăn nói quàng xiên, muốn nói cho họ biết nhưng xét thấy những con người này chứa đầy ḷng tật đố cùng tà kiến,  có nói họ cũng chẳng nhận biết được ǵ. Người ta nói « ăn để sống, chứ không phải sống để ăn » Hơn ai hết, những người tự xưng là đệ tử Phật lại càng thấu hiểu điều này, cũng như ngôn ngữ là kư hiệu đă được quy ước để cho mọi người trong một quốc độ, trú xứ một phương sở nào đó hiểu nhau, nó không là chân lư mà chỉ là phương tiện, với phương tiện đó ứng dụng thi thiết làm sao để mọi người hiểu nhau là được, nhưng theo thời gian tiến hóa, người ta cải tổ sửa đổi để cho gọn gàng khúc chiết. Nhưng mục đích chính là để chuyển tải những suy nghĩ không trực  tiếp bằng đối thoại mà là bằng chữ viết trên giấy, làm sao để người đọc hiểu được điều người viết muốn nói ǵ. Có những người tự cho ḿnh là tiến sĩ này tiến sĩ nọ, mà tâm hồn thua những hạng người thấp nhất trong xă hội, ḷng luôn ôm ấp tranh căi hơn thua, họ bơi móc những lỗi văn phạm chính tả rồi giả lơ quên đi vấn đề chính, lại xưng là đệ tử Phật. Khi tự bênh vực cho ḿnh th́ tự cho ḿnh là hạng xuất trần thượng sĩ, khi phê phán người khác th́ lại dùng giọng lưỡi đao to búa lớn, mạt sát sĩ nhục, đúng là miệng cứ nói không làm trong chỗ có. Tôi không biết họ học trong kinh luận nào mà chư Tổ, chư Phật dạy dùng cái léo lận gian manh như vậy. Chỉ thấy Phật dạy : « Là đệ tử Phật, nếu có công đức th́ hăy dấu đi, nếu có tội th́ nên phát lồ sám hối ».  Cũng như dạy Trực tâm là Đạo tràng, lại nữa người tu hành phải dùng tâm chất trực để tu, đâu phải là chạy theo tà thuyết ác đảng, cô phụ chân tâm, chạy theo danh lợi, miệng lại luôn nói điều chánh nghĩa ḥng lừa gạt ma mị thế gian. Cổ đức có dạy : « Tội phá giới nhẹ hơn tội phá tín » Nếu ai phá giới th́ chỉ có riêng bản thân người đó chiụ tội trong địa ngục, c̣n nói điều sai trái, chánh pháp nói phi pháp, tạo điều huyễn hoặc để mị người ḥng kiếm lợi lạc, làm cho người ta nhận định sai lầm tạo tội ác, trầm luân vô số kiếp, th́ tội này không thể nào kể xiết. Trong giới thứ 4 là giới vọng ngữ có câu : « Nhị giả ỷ ngữ, vị trang sức phù ngôn mị ngữ, diễm khúc t́nh từ đạo dục tăng bi, đăng nhơn tâm chí đẳng » đều thuộc tội nói láo cả, v́ tính chất sâu rộng to lớn của nó ảnh hưởng đến chúng sanh, nên phải chịu tội nặng

 

Cho nên những người thấy khổ th́ sợ, chỉ lo tu để giải thoát mà không dám xông vào trần lao sanh tử để độ chúng sanh, th́ đó là tâm lượng trí lực của họ như thế th́ họ hành xử như thế, tôi xin tán thán. Tuy nhiên, đức Thế Tôn đă quở những hạng này là « tiêu nha bại chủng » làm chết hạt giống Phật. Nếu những hạng này mà lôi kéo xúi giục người khác, theo họ th́ chẳng khác ǵ những hạng tà kiến, phá hủy hột giống Phật của chúng sanh, cũng đồng với ma chẳng khác.

 

 Ở trong nước, vào thập niên 90 có phong trào Xá lợi Phật, không biết ở đâu mà xuất hiện Xá lợi thật nhiều, mỗi chùa được tặng 2,3 viên Xá lợi. Tôi th́ chưa đủ sức để biết được đâu là Xá lợi thật và đâu là giả, nhưng một điều tôi tin tưởng tuyệt đối là : Phật là bậc Chánh đẳng Chánh giác phước đức trí tuệ không ǵ so sánh, nếu chỉ xưng danh hiệu chí thành lễ bái cũng đă tiêu tội tăng phước như trong kinh Địa Tạng đă dẫn giải, huống ǵ là Xá lợi thuộc sanh thân của Phật lưu lại, chỉ nói về hiếu hạnh của Phật th́ sách vở thế gian ghi chép chất đầy cơi Đại thiên cũng không nói hết, huống ǵ vô lượng công hạnh mà Thế Tôn v́ hóa độ chúng sanh đă xă bỏ thân mạng đầu, óc, tỉ, năo. Cho nên đă là Xá lợi Phật xuất hiện nơi đâu th́ Long Thần Hộ pháp xuất hiện nơi đó cúng dường giữ ǵn, mưa thuận gió ḥa nhơn vật b́nh an. Nhưng ở đây trái ngược lại, Xá lợi th́ xuất hiện thật nhiều mà băo lụt hằng năm th́ liên miên xảy ra, dân chúng th́ bị bóc lột cướp đất đai… thôi th́ đủ thứ, bây nhiêu đó cũng đủ để chứng minh không phải là Xá lợi Phật. Rồi gần đây lại có hiện tượng Phật Ngọc v́ ḥa b́nh, có chư thiên rải hoa Mạn đà la…thôi th́ đủ thứ linh ứng. Phật là bậc vạn đức nghiêm thân, từ bi b́nh đẳng, đâu phải là v́ đó là tượng « ngọc » nên Phật hiện vào c̣n những tượng bằng đồng bằng gỗ nên Phật chê nên không thị hiện. Thật là những tà kiến thâm trầm, dùng tâm sanh diệt thế gian để đồng hóa với thánh ư, nếu không nói đó là Duy vật, là tà kiến, là mê tín th́ gọi là ǵ ? Xin thưa cùng với hàng gọi là đệ tử Phật, những người thừa hành Phật dẫn dắt chúng sanh ra khỏi biển mê sanh tử luân hồi, đừng dùng những tà kiến để lung lạc ḷng người. Nếu có nói Phật quan tâm đến những hạng nào nhiều nhất, phải nói ngay đó là những hạng trí tuệ kém cỏi, phước đức không có, những chúng sanh trong địa ngục…đang chịu vô lượng khổ năo.

 

Xin đưa một vài mẫu chuyện nói về Tâm và Vật để mọi người suy gẫm. Xin lănh hội ư của câu chuyện đừng nên quan trọng về tên tuổi hay nhân vật đúng hay không đúng. « Trong chúng của Hoàng Bá có một vị Thượng tọa làm thất tu ở trên núi, hằng ngày đến giờ ngọ trại th́ xuống thọ trai cùng chúng tăng ở trai đường. Cả tuần rồi Hoàng Bá không thấy vị Thượng tọa xuống trai đường dùng cơm. Hôm đó thấy vị Thượng tọa, Hoang Bá hỏi :

-Sao lâu nay không thấy thượng tọa xuống trai đường dùng cơm ?

Vị thượng tọa trả lời.

-Bạch Ḥa thượng mấy hôm nay có chư thiên cúng dường.

Hoang Bá nói :

-Thượng tọa tu hành lếu láo để cho quỷ thần thấy tâm !

Vị thượng tọa nghe quở, hôm sau về thất ngồi đề khởi công án : «  Con chó có Phật tánh không ? »  và đề khởi chữ « không » tâm niêm mật lặng lẽ như thế. Hôm sau chư thiên đến chẳng thấy vị thượng tọa ở đâu cả, nên không cúng dường được..

Một câu chuyện nữa về ngài Hoàng Bá. «  Một hôm Hoàng Bá định đi thăm một vị cư sĩ ở dưới núi. Hôm sau khi đến nhà cư sĩ thấy vị này đang dọn dẹp trang hoàng nhà cửa. Hoàng Bá hỏi : Hôm nay nhà ông định làm ǵ mà sữa soạn trang hoàng kỹ lưỡng vậy. Vị cư sĩ trả lời :,

-Dạ bạch Ḥa thượng, khi hôm thổ địa báo mộng cho con, nói sáng nay có Ḥa thượng đến nên chúng con lo sửa soạn. Lúc đó Hoàng Bá tự nói rằng : Lăo Ḥa thượng ta tu hành lếu láo để cho quỷ thần thấy tâm.. »

Lại nói về Tha tâm thông, ngài Huệ Trung là Quốc sư dưới triều vua Đường Túc Tông,. Lúc đó ở Tây Thiên Trúc có Tam Tạng Thái Nhĩ đến kinh đô, tự  xưng đă đặng Tha tâm thông. Vua Đường Túc Tông yêu cầu sư thí nghiệm. Tam Tạng thấy sư liền lễ bái, đứng bên hữu. Sư hỏi :

-Ông đặng Tha tâm thông chăng ?

Tam Tạng thưa :

-Chẳng dám !

-Ông hăy nói hiện giờ lăo Tăng ở chỗ nào ?

-Ḥa thượng là thầy của một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đ̣ đưa ?

Sư im lặng giây lâu, bảo tiếp :

-Ông hăy nói hiện giờ lăo Tăng ở chỗ nào ?

-Ḥa thượng là thầy của một nước, sao lại đến cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn ?

Sư im lặng giây lâu, lại hỏi :

-Ông hăy nói, hiện nay lăo Tăng ở chỗ nào ?

Tam Tạng mờ mịt không biết chỗ nơi.

Sư liền nạt :

-Dă hồ tinh ! Tha tâm thông ở chỗ nào

Tam Tạng không đáp được.

 

Cho nên biết, « Tâm sanh cho nên Pháp sanh, do Pháp sanh nên biết tâm sanh, ngay đó biết sanh mà chẳng phải sanh là Vô sanh pháp nhẫn »  và trong Qui Sơn Cảnh Sách câu cuối cùng ngài Qui Sơn nhắc rằng : « Nhứt tâm bất sanh vạn pháp câu tức »

 

Cho nên đă xưng là đệ tử Phật, với trách vụ « Hoằng pháp thị gia vụ » phải luôn luôn nổ lực tinh tấn cần cầu quả vị Chánh đẳng chánh giác của Như Lai, dưới phải cứu độ vô lượng chúng sanh khổ, biết chúng sanh tánh là không nhưng luôn phát thệ nguyện độ sanh không mỏi mệt, biết duyên sanh tự tánh là huyễn nhưng  đối với 37 phẩm (5) trợ đạo luôn tu tập. Đối với các pháp phải biết rơ chủ khách, tâm vật phân minh. Với thần thông diệu dụng th́ xem như là kết quả tất yếu, như là ăn th́ no, đi th́ phải đến, không nên hỏi tôi ăn cơm rồi không biết có no không, không biết tôi đi rồi có đến được đích hay không ! Không thực hành mà chỉ ngồi để nghĩ vẫn vơ, th́ là những hạng người mộng du hoang tưởng mà thôi. Cũng như có người thắc mắt về « Thiên Thủ Thiên Nhăn »  cũng như cho rằng ngài Quán Thế Âm làm sao một lầm hóa thân khắp cơi Ta Bà để hóa độ chúng sanh cho kịp, nếu cùng lúc tất cả chúng sanh đều gặp nạn và kêu cứu đến Ngài. Ở đây tôi không muốn lư luận nhiều về vấn đề này, v́ nó không có thức tế. Tuy nhiên, để  cho mọi người có thêm nhận định tôi xin đưa ra h́nh ảnh để minh họa điều này như sau : Chúng ta hăy quan sát vũ trụ chúng ta đang ở, tất cả những sông ng̣i, ao hồ, lớn, nhỏ… trên hành tinh này rất là nhiều, vào những đêm tối trời th́ không nói, nhưng khi có trăng nhất là ngày trăng tṛn, khi trăng lên cao tỏa sáng khắp cả, th́ tất cả ao, hồ, sông, suối đều có trăng hiện, với điều kiện mặt nước phải phẳng lặng không chao động. Như vậy quí vị thử nghĩ : mặt trăng đến nơi ao, hồ…hay ao, hồ…đến với mặt trăng ?. Chắc ai cũng biết rằng chẳng có cái nào đến đi cả phải không ! Cũng vậy, chúng sanh trên hành tinh này như những ao hồ…ngài Quán Thế Âm như măt trăng trên trời, nếu tâm chúng sanh thanh tịnh ứng hiện hiệp cùng bổn nguyện của Ngài th́ Ngài đến, lư là như vậy, c̣n sự thể nghiệm như thế nào, th́ quí vị hăy chí thành thanh tịnh niệm danh hiệu Ngài th́ tự khắc  sẽ thấy diệu dụng, ở đây không có ngôn ngữ để diển tả cái riêng của quí vị. Xin trân trọng !

 

Hiểu được điều này th́ biết thế nào là « Thiên Thủ Thiên Nhăn » , c̣n dùng văn tự lời nói để cố diễn đạt không khéo sẽ rơi vào hư luận, sẽ rối loạn tâm trí. Ví như có người hỏi bạn thấy ma chưa ? Xin tả lại xem con ma h́nh dạng nó như thế nào ?  Người hỏi đă ngu, người giải đáp cũng ngu nữa. ! Ở trên tôi nói không thực tế, v́ nó chỉ thỏa ư ṭ ṃ để hiểu, mà không ích cho việc giải thoát. Chư Phật dạy chúng sanh phương pháp giải thoát, chớ không phải để biết cho vui mà thôi !

 

Chư  Phật, Bồ tát thị hiện độ sanh, dùng vô lượng phương tiện quyền xảo để nhiếp hóa cứu độ chúng sanh, nhưng không bao giờ chúng sanh biết được là các Ngài thị hiện, cho nên trong kinh Lăng Nghiêm đức Thế Tôn có dạy các hàng Bồ tát trong đời mạt pháp thị hiện vào trong lục đạo để hóa độ chúng sanh, không được để cho chúng sanh biết. Ví như đức Di Lặc thị hiện làm Bố đại ḥa thượng vào trong nhân gian để cứu độ chúng sanh, nhưng không ai biết được ngài là Di Lặc hóa thân cả, đến khi xả thân mới để lại bài kệ hoặc là những chứng tích nói đến hành trạng khi Ngài c̣n sống, con người lúc đó mới biết là Di Lặc. Cho nên, những ai mà tự xưng ḿnh là Bồ tát thị hiện để cứu độ chúng sanh phải biết đó là ma cả ! Là Phật tử học theo hạnh Phật, th́ phải biết để khỏi lạc vào ma sự. (c̣n tiếp)

 

Thích Như Tấn

 

 

Chú thích :

(1) Tam tụ tịnh giới : gồm Nhiếp luật nghi giới ; Nhiếp thiện pháp giới ; Nhiêu ích hữu t́nh giới.

(2) Thập lực : Mười trí lực của Phật. 1-Trí lực của Phật biết rơ những điều hợp lư và trái lư  2-Biết rơ nhân quả nghiệp báo của chúng sanh trong ba đời 3-Biết rơ các pháp thiền định giải thoát tam muội 4-Biết rơ từng bậc cao thấp các căn tánh của chúng sanh 5-Biết rơ những ưa muốn sai khác của chúng sanh 6-Biết rơ tất cả những cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian 7-Biết rơ chỗ đi đến của tất cả phàm phu, Hiền, Thánh thế gian và xuất thế gian 8-Biết rơ tánh danh khổ vui, tho, yểu, của tất cả chúng sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền Thánh 10-Tự biết ḿnh đă dứt hết nghiệp hoặc tập khí, không c̣n sanh tử triền phược nữa.

(3) Tứ vô úy : Bốn món vô úy : 1-Nhứt thiết trí : hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian ; 2-Lậu tận : hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết 3-Thuyết chướng đạo : nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo 4-Thuyết tận khổ đạo : nói những đạo pháp có thể diệt hết các khổ. Bốn điều này Phật đối giữa đại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói được nên gọi là « vô úy »

(4)Thập bát bất cọng : Mười tám (18) pháp bất cọng nầy chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với hàng Nhị thừa và Bồ tát :

1-Thân không lỗi 2-Miệng không lỗi 3-Niệm không lỗi 4-Không có tâm tưởng khác 5-Không có tâm bất định 6-Không có tâm không biết 7-Sự muốn không giảm 8-Tinh tấn không giảm 9-Niệm không giảm  10-Huệ không giảm 11-Giải thoát không giảm 12-Giải thoát tri kiến không giảm 13-Tất cả thân theo nghiệp trí tuệ mà hành động 14-Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động 15-Tất cả ư nghiệp theo trí tuệ mà hành động 16-Trí tuệ biết đời vị lai không ngại 17-Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại 18-Tất cả trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.